Showing posts with label TÙY BÚT. Show all posts
Showing posts with label TÙY BÚT. Show all posts

Wednesday, March 18, 2015

ƠN ĐỜI CHAN CHỨA ( Tràm Cà Mau )





ƠN ĐỜI CHAN CHỨA


Tuổi già, buổi sáng thức dậy, nghe gân cốt đau rêm mà mừng, vì biết mình còn sống. Đại ý viết như vậy, trong một cuốn sách Mỹ mà ông Tư đọc được, làm ông thấm thía cái hạnh phúc lâng lâng của từng sớm mai khi vừa tỉnh giấc. Bạn bè cùng trang lứa với ông, nhiều người đã về với Diêm Vương khi còn trẻ măng, vì cuộc tương tàn khốc liệt dài ngày trên quê hương. Nhiều người khác gục ngã trong trại tù vì đói khát, bệnh tật, mồ hoang vùi cạn. Một số khác nữa, vì khao khát tự do mà chôn thân dưới đáy biển, hoặc chết khô giữa rừng sâu. Không ít người còn lại, tử thần cũng đã đón mời vì bạo bệnh, khi tuổi năm sáu mươi. Phần ông vẫn còn dai dẳng sống sót cũng là ân huệ trời ban, không vui hưởng tháng ngày, cũng uổng lắm sao!

Ý nghĩ đó làm ông mỉm cười sung sướng. Ông vẫn trùm thân trong chăn ấm. Tội chi mà dậy sớm cho mệt. Mỗi khi nghe tiếng khởi động máy xe từ hàng xóm vọng qua trong buổi tinh sương, ông càng vui sướng hơn, vì không còn phải vùng dậy giữa đêm đen, lặn lội đi kiếm cơm hàng ngày như mấy gã trẻ tuổi ở cạnh nhà. Về hưu rồi, mỗi tuần hưởng bảy ngày chủ nhật, bảy ngày thảnh thơi. Hết áp lực của công việc hàng ngày, không phải lo lắng bị thất nghiệp khi kinh tế khủng hoảng xuống dốc. Khoẻ re.

Cứ nằm trùm chăn ấm nghe nhạc mềm văng vẳng ru đưa, phát ra từ cái radio nhỏ, có khi ông chợp thêm được một giấc ngủ ngắn ngon lành. Ngủ chán thì dậy. Bước xuống giường, dù khớp xương sưng đau, đi khập khễnh ông cũng thầm cám ơn cái chân chưa liệt, còn lê lết được. Chưa phải nằm dán lưng vào giường như một số người bất hạnh khác. Những kẻ này mà nhích được vài bước cà thọt như ông, thì chắc họ cũng sướng rân người. Ông thầm bảo, có thêm được một ngày để sống, để vui, để yêu đời. Bệnh hoạn chút chút, thì phải mừng, chứ đừng có nhăn nhó than vãn ỉ ôi.

Mỗi khi đánh răng rửa mặt, ông lầm thầm: “Mình sướng như vua rồi, có nước máy tinh khiết để dùng. Giờ nầy, cả thế giới, có hơn một tỉ người thiếu nước để nấu ăn, để tắm giặt và nhiều tỉ người khác không có nước sạch, phải uống nước dơ bẩn.” Dù cái bàn chải đánh răng đang ngọ ngoạy trong hàm, ông cũng ư ử hát ca. Khi áp cái khăn tẩm đầy nước lên mặt, ông cảm được cái mát lạnh và niềm sung sướng chứa chan đang lan tỏa chạy khắp người. Ông biết đang được ân sủng của trời đất ban cho trong tuổi già.

Ngồi lên cái bồn cầu êm ái, nhà cầu sạch sẽ, trắng toát, thơm tho, không vướng một chút mùi vị hôi hám, đèn đóm lại sáng trưng, có nhạc văng vẳng từ radio, ông cầm cuốn sách thưởng thức chữ nghĩa của “thánh hiền”, tư tưởng của Đông Tây. Không bao giờ ông quên cùng giờ phút nầy, có hơn ba tỉ nhân loại không có cầu tiêu để làm cái chuyện khoái lạc thứ tư. Có người phải ra đồng lồng lộng gió, mà làm chuyện “nhất quận công, nhì ị đồng”. Phải gấp gấp cho xong chuyện, không nhẩn nha được, vì hai tay phải múa lia lịa hất ra đàng sau, để xua đuồi lũ ruồi đồng đang vo ve “oanh tạc”. Xong việc, may mắn lắm thì có lá chuối khô mà lau chùi, còn không thì dùng đất cày, đá cục, nắm cỏ, que nhánh cây tươi, khô. Ông cứ nhớ thời làm việc ở quận lị, chỉ có nhà tiêu lộ thiên, hai tấm ván bắt ngang qua một hầm cầu lộ thiên, nắng xông hơi phân người lên nóng hừng hực rát cả mặt, bên dưới giòi bọ lúc nhúc lổm nhổm làm thành một tấm màn trắng-ngà chuyển động. Có con gà ở đáy hầm, nó đang thưởng thức ngon lành món giòi bọ, thấy ông xuất hiện bất thần, sợ hãi hoảng hốt đập cánh bay lên kêu quang quác và vung vãi ‘ám khí’ khắp trong không gian, làm ông cũng khiếp viá, ôm đầu phóng chạy dài. Nghĩ đến chừng đó thôi là ông đủ cảm được cái sung sướng đang có ngay bây giờ. Ngồi thật lâu, đọc cho xong mấy trang sách, mới nhởn nhơ rời phòng.

Ông Tư tự đãi một bình trà nóng, một ly cà phê thơm, rồi nấu nồi cháo gạo tẻ đặc rền ăn với cá kho mặn. Dọn ra bàn, đèn vàng soi một khoảng ấm cúng. Ông thong thả vừa hớp nhâm nhi, vừa ăn từng muỗng cháo, chất gạo béo tạo vị giác đi qua trong cổ họng. Ông lầm thầm: “Ngon, cao lương mỹ vị cũng không bằng”. Ông thường ngâm nga hai câu thơ : “Vợ cũ, chó già, tô cháo nóng. Ba nguồn thân thiết dạt dào thương” . Mắt ông dán vào trang thơ đang cầm trên tay, gật gù thưởng thức ý lời hoa gấm. Ông trầm mình vào những giòng thơ, tim xao xuyến xúc động mênh mang. Thỉnh thoảng ông dừng lại, và nói nhỏ cho chính ông nghe: “Tiên trên trời cũng chỉ sướng và thong dong như thế này là cùng”. Ông nhớ đến cái thời “tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên xã hội chủ nghĩa”, buổi sáng bụng đói meo, vác cuốc đi làm lao động tay chân nặng nhọc, ráng uống một bát nước lã để cầm hơi và đánh lừa cái bụng đang sôi sồn sột. Bây giờ được như thế nầy, phải biết cám ơn ân sủng của trời ban cho. Biết bao nhiêu tỉ người trên thế giới này mơ ước được có một buổi sáng thảnh thơi và no ấm như ông mà không được nhỉ?

Nhìn xuyên qua cửa phòng ngủ, ông thấy bà vợ nằm ngủ giấc yên bình, lòng ông dạt dào niềm thương. Bà đã cùng ông mấy mươi năm dắt dìu nhau trong phong ba bão táp của giòng đời nghiệt ngã. Đã chia sẻ ngọt ngào cũng như đắng cay của một thời khói lửa điên đảo. Giờ này, may mắn vẫn còn có nhau trong cuộc đời, thương yêu thắm thiết, nhường nhịn nâng đỡ chăm sóc ngày đêm. Không như những cặp vợ chồng già khác, cứ lục đục gây gổ nhau, tranh thắng thua từng li từng tí, làm mất hạnh phúc gia đình. Ông thương bà biết an phận thủ thường, không đứng núi ầy trông qua núi nọ. Ông thấy bà hiền lành và có trái tim đẹp như thánh nữ. Ông muốn vào phòng, hôn bà lên trán, nhưng ngại làm vợ mất giấc ngủ ngon buổi sáng. Ông lại cám ơn trời đã đem bà buộc vào đời ông. Ông cười và nhớ câu nói của một nhà văn nào đó: “Đời sống không thể thiếu đàn bà, nhưng sống được với một người đàn bà không phải dễ.”

Ông Tư ra vườn. một mảnh đất nhỏ trồng vài cây hoa, hương thơm thoang thoảng, có tiếng chim kêu đâu đó líu lo vọng lại. Mấy đoá hoa sặc sỡ còn đọng sương đêm lóng lánh. Nắng mai ấm áp phả lên da thịt ông, tạo thành một cảm giác dịu dàng, êm ái. Ông vươn vai, xoay người trong thế thể dục chậm, xương sống được thư giãn kêu răng rắc, đã đời. Hít thở và phất tay chừng mười lăm phút cho máu huyết lưu thông. Loại thể dục nầy đã giúp ông bớt được những cảm mạo thông thường, ông tin vậy.

Ông Tư thay áo quần để đi ra đường. Cầm cái áo lành lặn bằng vải tốt trên tay, ông thường nhớ đến thời đi tù, khâu bao cát làm áo, rách tả tơi, không đủ che gió lạnh thấu xương của núi rừng. Thế mà cũng có nhiều tù nhân khéo tay và nghịch ngợm, khâu bao cát thành bộ đồ lớn, đủ ba mảnh, và làm luôn cả cái “cà vạt”, mang vào trông cũng sang trọng như đi ăn đám cưới. Nhớ lại thời đó mà rùng mình. Còn sống sót, và đến được đất nước tự do này, cũng là một điều mầu nhiệm lạ lùng. Ông Tư đi ra đường, xe cộ vùn vụt qua lại liên miên. Lề đường rộng, phẳng phiu, sạch sẽ. Bên kia là giao điểm của hai xa lộ, các nhánh cầu cao đan uốn éo chồng chất lên nhau, vòng vèo trên không, như những nùi rối. Ông Tư thầm cám ơn tiền nhân đã đổ sức lực, mồ hôi, tài nguyên khai phá và xây dựng nên những tiện nghi nầy cho ông nhảy xổm vào hưởng dụng, mà không ai có một lời ganh ghét, tị hiềm. Ông, từ một trong những nước lạc hậu nhất của hành tinh nầy, bị chính quyền cuả xứ ông bạc đãi, kỳ thị, kềm cặp và lấy hết các tự do cơ bản. Đến đất nước này, ông được bình đẳng, có công ăn việc làm hợp với khả năng, con cái ông được đến trường, học hành thành tài, có nghề nghiệp vững chắc và sống với mức trung lưu. Ông cảm thấy còn nợ quê hương mới nầy quá nhiều thứ, từ tinh thần đến vật chất, mà biết không bao giờ trả lại được một phần nhỏ nào. Ông Tư vừa đi bộ vừa ca hát nho nhỏ.

Một người cảnh sát cao lớn dềnh dàng đi ngược đường chào ông, ông chào lại bằng lời cám ơn đã giữ gìn an ninh cho dân chúng sinh sống. Người cảnh sát cười và nói đó là bổn phận, vì lương bổng của ông ấy được trả bằng thuế của dân chúng, trong đó có ông. Ông Tư thấy trong lòng bình an, ông không làm điều gì phạm pháp, thì không sợ ai cả. Ông đọc trong báo, thấy có những xứ, dù không làm gì sai quấy cả, cũng bị cảnh sát giao thông chận lại đòi tiền, nếu không cho tiền, thì bị quy kết đủ thứ tội mà mình không có.

Nắng chiếu hoe vàng cả dãy phố của một ngày thu, ông Tư bước đi mà lòng rộn rã. Gặp ai cũng chào, cười vui vẻ. Nghe ông chào hỏi nồng nhiệt, mọi người đều vui theo. Thấy một ông cụ mặt mày đăm đăm rầu rĩ đi ngược đường, ông Tư lớn tiếng:

“Chào cụ? Có mạnh khỏe không? Hôm nay trời nắng đẹp quá!” Ông cụ trả lời qua loa: “Tàm tạm, chưa chết! Chán cái mớ đời.” Ông Tư nói to: “Việc chi mà chán đời cho mệt cụ ơi. Chưa chết là vui lắm rồi. Cụ có biết là chúng ta đang sung sướng phước hạnh, tội chi phí phạm thời gian để buồn nản?” Ông cụ thở dài: “Ai cũng có nhiều việc âu lo! Đời đâu có giản dị! À, nầy, mà hình như ông đau chân, bước đi không được bình thường? Thế thì vui nỗi gì? ” Ông Tư cười lớn: “Vâng, tôi đau chân, nhờ đau chân mà tôi thấy được niềm vui hôm nay lớn hơn, vì còn đi được, bước được, chứ chưa phải nằm nhà. Cụ ơi, nếu lo âu mà giải quyết được những khó khăn, thì nên lo. Nhưng nếu lo âu, mà không giải quyết chi được, thì hãy vui lên, cho đỡ phí phạm ngày tháng trời cho” Ông cụ già lắc đầu bỏ đi.

Ông Tư xà vào ngồi trên ghế đá mát lạnh của công viên dưới tàng cây có bóng nắng lung linh. Nhìn bọn trẻ con chơi đùa la hét lăn lộn trên bãi cát, ông vui lây với cái hồn nhiên của chúng. Bên kia đồi cỏ, có đôi nam nữ nằm dưới gốc cây, kê đầu lên tay nhau, tóc đổ dài óng ánh, thỉnh thoảng vang tiếng cười rúc rích. Đất nước nầy ấm no và thanh bình quá, sao có nhiều người còn kêu ca đời sống khó khăn? Phải chăng những kẻ này chưa biết an phận, muốn được nhiều hơn điều đang có, đang đủ. Không thấy được phước hạnh là lỗi tại họ. Ông dong tay bắt vài tấm lá rơi đang quay cuồng trong gió và lấy bút ghi lên mặt lá mấy giòng thơ vừa thoáng qua trong trí để ca ngợi cuộc đời. Thấy bãi cỏ êm mát, ông nằm dài, những vòng tròn sáng màu vàng rải rắc trên mgười ông. Gió hiu hiu mát từ hồ nước vờn qua làm mơn trớn thịt da. Ông Tư rút từ túi quần một cuốn sách nhỏ có nhan đề “14 ngàn điều làm nên hạnh phúc”. Tác giả tập sách nhỏ nầy, thấy đâu đâu cũng là hạnh phúc tràn đầy. Vấn đề là cảm nhận được cái sung sướng, cái hạnh phúc đang có. Từ việc đặt chân lên một tấm thảm mềm êm ái, đến việc cắn một trái ngọt chín mọng trong miệng, đến mơ mộng được hát trên bục một hộp đêm, nghe một lời nói dịu dàng yêu thương…

Hạnh phúc và sung sướng cảm nhận được từ những điều rất nhỏ nhặt, đơn sơ, tầm thường nhất trong sinh hoạt hàng ngày. Không cần phải là ôm chặt người yêu trong vòng tay, cũng chẳng phải vật nhau lăn lộn trên giường, cũng không cần đến việc cầm trong tay cái vé số trúng độc đắc, hoặc làm chủ được một tòa lâu đài sang trọng… Ông nghĩ, chắc sẽ có người cho tác giả tập sách nầy là kẻ “lạc quan tếu”. Nhưng thà lạc quan tếu hơn là bi quan. Đời nầy, có nhiều người đắm mình trong hạnh phúc, mà cứ tưởng đang ngụp lặn trong bể khổ. Hoặc đang được phước hạnh mà không biết và xem thường, chỉ khi mất đi, hay đã trôi qua, mới biết, thì đã quá muộn màng.

Nắng đã xông hơi nồng nóng, ông Tư đón chuyến xe buýt ra về. Cái vé xe cho người già rẻ rề, chỉ bằng một phần ba vé bình thường. Ông nói lời cám ơn tài xế, và thấy mang ơn những người cùng đi xe công cộng nầy, vì xem như họ đã gián tiếp gánh một phần tiền vé cho ông.

Về nhà, bà Tư đã dọn sẵn cơm trưa, mời ông rửa ráy cho sạch sẽ mà ra ăn. Thấy ly nước chanh muối, ông cầm uống, chất nước ngọt ngào mằn mặn chua chua, ngon lành đi qua cổ họng. Ông nhìn vợ với ánh mắt thương yêu và nói lời cám ơn cho bà vui. Chưa ăn, mà thấy bát canh bông bí nấu tôm đã biết ngon. Những món ăn thanh đạm này, với ông, còn ngon hơn sơn hào hải vị.

Ăn xong, còn chút cơm thừa, bà Tư bỏ vào chén, cất vô tủ lạnh, không dám đổ đi, vì sợ phí phạm của trời. Bà nhắc câu nói của ông: “Ngay giờ khắc nầy, trên thế giới có hơn năm trăm triệu người đang đói rã, không có một miếng gì đề ăn, và có hơn vài tỉ người ăn chưa no bụng, và nhiều tỉ người khác quần quật ngày đêm, cũng chỉ mong có đủ no mà thôi.” Đã từng đói, nên ông bà không dám phí phạm thức ăn.

Ông Tư mừng vì ăn còn thấy ngon miệng, không như một số người khác, ăn gì cũng như nhai đất sét, không muốn nuốt, vì nhạt miệng, mất vị giác. Một số người khác còn tệ hại hơn nữa, họ không còn ăn bằng miệng được, mà ăn bằng bụng, nhờ ống dẫn thức ăn nối với dạ dày, như đổ xăng cho xe hơi.

Ông Tư ngồi vào bàn mở máy vi tính lướt mau tin tức thế giới biến động. Đôi khi thấy gía thị trường chứng khoán tụt dốc xuống thấp, làm nhiều nhà bình luận lo ngại. Nhưng ông Tư cười, ông chẳng thèm để ý, không cần quan ngại chi cả. Chứng khoán lên hay xuống, cũng thế thôi. Ông có lo ngại hay quan tâm cũng chẳng thay đổi được gì. Với số tiền hưu khiêm tốn, và cách ăn tiêu trong khả năng tài chánh, ông bà Tư chưa bao giờ thấy thiếu thốn cái gì. Có một ông bạn khoe rằng nay đã thành triệu phú. Bà Tư đùa và hỏi, triệu phú thì khác người không là triệu phú cái gì? Ông bạn lúng túng ấp úng không biết phải trả lời ra sao. Nhưng ông bà Tư chắc chắn rằng, họ ít tiền, nhưng được sung sướng, đầy đủ hơn nhiều người giàu triệu phú khác.

Ông Tư rà mắt qua các tin tức và các biến cố mới nhất. Thật là tuyệt diệu và thần kỳ. Chuyện vừa xảy trong giờ trước, đã được tường thuật ngay. Dạo một vòng tin tức xong, ông quay qua mở vi-thư của bạn bè. Có những người bạn xa cách hàng ngàn dặm, mấy chục năm nay chưa gặp lại nhau, mà thư từ qua lại liên miên, tưởng như gần gũi trong gang tấc. Tha hồ hàn huyên tâm sự. Tình cảm qua lại thân thiết chứa chan. Nhờ máy vi-tính, khi viết, tha hồ bôi xoá tẩy sửa lung tung, mà không cần phải xé tờ nầy, viết lại tờ kia, vô cùng tiện lợi. Thư viết xong, chỉ cần một cái nhấp con chuột, bạn ông nhận được ngay tức thì. Không cần phải nhờ bưu điện chuyển đi có khi cả tuần mới đến. Hàng chục lá thư của bạn bè khắp nơi trên thế giới chuyển đến ông đủ điều hay, lạ, nhiều bài thuốc hiệu nghiệm, trăm bản nhạc du dương, ngàn hình ảnh tuyệt vời của các thắng cảnh thiên nhiên, các đoạn phim ngắn đủ thể loại của nhiều vấn đề khác nhau. Ông cám ơn khoa học kỹ thuật tiến bộ, đem thế giới mênh mông lại gần gũi trong không gian và cả thời gian.

Mỗi khi nghe tin một người già bệnh hoạn qua đời, ông Tư mừng cho họ thoát được thời gian đau yếu sống không chất lượng. Nhiều người nằm liệt vài ba năm, không sống, không chết. Còn có những kẻ phải cưa tay cưa chân. Ông vẫn thường mong sau này, nếu được chết, thì chết mau chóng, yên lành, khỏi qua thời gian bệnh hoạn lâu ngày.

Có một bạn già mỉa mai, cho ông Tư là “kẻ tự sướng” ông chỉ cười và nói : “Thà tự sướng hơn là tự khổ”


Ông Tư thường nghĩ rằng, ông đã và đang được quá nhiều phước hạnh của trời ban, nhiều ân nghĩa của nhân loại, xã hội, nhiều tình thương của gia đình, bạn bè, người quen và cả chưa quen. Ông thấy sung sướng hạnh phúc. Ông tội nghiệp cho những người suốt đời than van, nắng không ưa, mưa không chịu, và tự bôi đen ngày tháng đẹp đẽ của họ, và dìm đời vào bất mãn, khổ đau ...

TRÀM CÀ MAU


Friday, August 22, 2014

NHỮNG CƠN MƯA CÒN LẠI ( Thầy Nguyễn Tư Thiếp )




          NHỮNG CƠN MƯA CÒN LẠI


                           Tùy bút Nguyễn-Tư
                   
                          ( Gửi : Tuổi  thơ của tôi )

  Mưa, dưới con mắt của một nhà khoa-học, thì đó chỉ là những hạt bụi trong
không trung bị hơi nước bao quanh ở nhiệt-độ thấp ngày càng nặng...nên rơi
xuống đất, tạo thành mưa!? Nhưng đối với người làm ruộng, thì đó là ân-huệ của
Trời, giúp cho họ được no cơm ấm áo trong vụ mùa tới:

"Lạy Trời mưa xuống,
Lấy nước tôi uống,
Lấy ruộng tôi cày,
Lấy đầy bát cơm..."

Nói tóm, mưa trong từng hoàn-cảnh có những ý-nghĩa khác nhau! Duy có điều
dường như trong Văn-nghệ mưa lại có một ý nghĩa đặc-biệt hơn: mưa buồn! Thực
vậy, người ta ít khi nào thấy mưa trong Văn-nghệ mà không buồn? Mưa lạnh-lẽo
âm-u, rét buốt...mưa tối-tăm, mưa cô quạnh, nhất là mưa "chiều" hay mưa "đêm"
có người nằm lắng tai nghe những giọt mưa rơi tí-tách trên những tàu lá chuối
sau hè trong những đêm Đông mưa dầm gió bấc ở Trung-kỳ. Mưa rả-rích, mưa hoài,
mưa mãi, mưa liên-miên, suốt ngày, suốt tháng, suốt mùa...Mưa như thể chưa được
mưa bao giờ! Mưa đến thúi đất, mưa nhạt-nhòa trên những hàng tre sà thấp, la-đà
chụp xuống những vũng ao đầy nước sau nhà, lẩn chìm trong tiếng ễnh-ương buồn
lê-thê, làm trăn-trở, đau, những tâm-hồn xa nhà không ngủ được như mưa của Huy-Cận một thời:

"Đêm mưa làm nhớ không-gian,
Lòng run thêm lạnh nỗi hàn bao la.
Tai nương nước giọt mái nhà,
Nghe trời lành-lạnh, nghe ta buồn-buồn..."

Ai đã từng nhìn mưa tầm-tã trong phim lừng danh có tên"Địa-ngục môn"của
Nhật-bản chưa? Tôi đã thấy mưa vãi mù trên lưng người Hiệp-sĩ "Samurai" ngang
hông mang kiếm đi lủi-thủi, ướt nhẹp mà vẫn tỉnh queo, rồi bước vào một căn nhà
có cổng chữ "môn" - biểu-tượng Văn-hoá đặc-thù của xứ Thái-dương, trông giống
như một ngôi Chùa cổ. Ai đã từng cảm thấy giá buốt khi nhìn những cảnh mưa
buồn, mưa liên-tục, mưa từ đầu cho đến hết cuốn phim dài có đến vài tiếng đồng
hồ nơi phim"Giã-từ vũ-khí"(A farewell to Arms) phỏng theo danh-tác Văn
chương của Văn-hào nổi tiếng, đẹp lão, ngang tàng...của Hoa-kỳ: Hemingway, ở
thế kỷ 20 - một kẻ "Văn-nghệ giang-hồ" khắp nơi, mà thú vui vẫn là thích những
cảm-giác mạnh, rất mạo-hiểm kiểu như trèo lên đỉnh Kilimanjaro cao nhất ở châu
Phi, hoặc ông không vắng mặt lần nào trong những buổi đấu bò mộng ở Madrid,
Kinh-đô Tây-ban-nha! Ông từng được giải Nobel năm 1954 và cũng đã tìm cho mình
một cái chết đầy thê-thảm mà ông cho là "ý-nghĩa-với-riêng-ông" bằng súng ở
cuối đời, khi ông ngất-ngư trên vũng máu nơi bàn có chữ"The end"(Chấm hết!) cũng chính bằng máu của mình, mà ông gắng-gượng hết sức bình sinh để viết lần cuối cùng với những ngón tay già nua run-rẩy, mà tôi bất ngờ nhìn thấy được trên những trang báo "Paris Match" ở tuổi mới lớn lên, đã gây cho tôi một ấn-tượng "âm-tính" về cuộc đời phù-du cho đến bấy giờ - đôi khi, tôi thấy đó là "Chân-lý" (danh vọng, tiền bạc, ganh tị, thù hận làm gì!??)mà trong Triết-học Hiện-sinh vẫn thường mệnh-danh là sự"Phi-lý"(Absurdité)...hầu gửi lại cho người sau: cuộc đời cũng buồn thảm, lạnh cóng, gian-nan và mù-mịt trên Tâm-thức con người, như những cơn mưa dai-dẳng, liên-miên, mà chúng ta ít khi nhìn thấy bóng mặt trời lắm - nó chỉ là "cái cớ"(prétexte) để dẫn dụ người ta tiếp nối đời sống như một Thân-phận hẩm-hiu, vô nghĩa, đầy chịu đựng, rất nhỏ bé, ngắn-ngủi...nhưng người ta vẫn cứ muốn làm khổ nhau, như TCS đã viết:"Sốngcó bao năm vui-vui buồn-buồn...người-người ngợm-ngợm. Sống chết mong-manh như thân cỏ hèn mọc đầy núi non. Cuộc đời cho tôi tiếng nói đôi khi vui tươi, cuộc đời cho tôi tiếng nói đôi khi ngậm-ngùi..."(Giọt lệ thiên-thu).

Thế nhưng, cũng có những cơn mưa nguồn bất chợt, ngắn gọn. Mưa ào-ạt không
thấy mặt người! Mưa như thác đổ. Mưa trùm lên những ngọn cây cao vút ở những
khu rừng già, chìm trong những cụm mây chùng thấp, lẩn trong những làn khói đá
mịt-mùng...Mưa tự nó đã buồn, nhất là mưa "chiều" hay mưa "đêm", nhưng những
cơn mưa buổi "sáng" không phải là vui đâu, nếu như hồn mình có cái gì đó không
đành lòng, như có lần tôi đi làm sớm mải ở City, ngồi trong toa xe nhìn ra thấy mưa mù-mịt vãi lên cửa kính mà tàu vẫn cứ rít còi lầm-lũi tiến vào thành phố đang chìm trong màu mưa trắng đục, lòng tôi không khỏi bùi-ngùi khi nhớ đến một người ở xa cách tôi nửa vòng trái đất. Và tôi đã ghi vội lại như sau:

Mưa buổi sáng,
mà lòng tôi chiều !
Ở xa,
nên nhớ thương nhiều đến em!
Trời nào,
gọi là trời quên ?
Nhớ nào,
là nhớ thương đền cho nhau?
Một sợi mưa mau,
hai sợi mưa mau!
Sợi nào là sợi mưa "đau",
trong lòng?
Mưa bay,
ướt sợi tơ-hồng,
Có người vẫn mãi nặng lòng,
thương em….

Nhưng nếu mưa buồn mà kèm với một chút kỷ-niệm đắng cay nào đó trong đời
thì lại buồn hơn!? Tôi đã có những cơn mưa như thế trên những chặng đời bất
ngờ trong thời thơ ấu, lẫn những khi lớn lên trong những gian-nan do hoàn cảnh Lịch-sử tạo ra, mà tôi chỉ là một chiếc lá khô trôi theo mệnh nước,đã để lại cho tôi những nỗi ngậm-ngùi không thể nguôi-ngoai...mà thực lòng - đôi khi - tôi cũng muốn đẩy nó ra khỏi ngăn kéo của ký-ức mình, vốn đã mang nặng những ưu-tư phiền muộn...

Có một lần nào đó, trong đêm dừng quân trên một ngọn đồi xa-xăm, để chờ trực-
thăng đến bốc về Hậu-cứ, sau khi đã hành quân ròng-rã mấy tháng trời trong rừng
rậm, tôi ngồi âm-thầm nghe tiếng mưa rơi rả-rích trên tấm áo "poncho"( miếng
vải nhựa đa dụng, dùng làm áo mưa, lều che hay chiếu trải, hoặc làm phao vượt
sông của lính miền Nam trước đây) buồn hiu-hắt...Bởi vì lúc đó, tôi đang nhớ
tới cơn mưa quê nhà trong tuổi ấu thơ, mà tôi chỉ là một đứa bé, ngồi bên này
bờ một dòng sông nước lũ, đội cái nón lá rách tả-tơi, mặc một bộ đồ vải chàm
đã có những miếng vá sau lưng, đi chân trần và ôm một con bê (bò con) tí xíu...Mình con bê ướt mèm, làm nó run lên lẩy-bẩy, nhưng vẫn nằm ngoan-ngoãn trong vòng tay gầy đét của tôi để chờ con nước rút do cơn mưa lũ từ chiều, mà tôi và nó không thể nào vượt qua sông vì quá bé...

Con bê thỉnh-thoảng cựa mình, ngoe-nguẩy hai chân sau xuống mặt đất, rồi lấy
cái mõm đen thui, bóng lưỡng ủi-ủi vào mặt tôi, kêu lên những tiếng "be-be"
nho-nhỏ như nó đang rên, nghe rất tội-nghiệp! Những khi cựa quậy như vậy, nó
làm cho tôi muốn bật ngửa ra phía sau, nên tôi phải cố gượng dậy, lấy sức thăng
bằng, rồi đưa tay vỗ nhẹ lên gáy của nó, và vuốt-ve, mắt nó lại lim-dim như một
đứa trẻ thơ...

Tôi tìm nơi tựa lưng vào một bờ đá, để tránh những hạt mưa nhọn bay nghiêng
phóng xuống từ trời cao rát bỏng như những nắm kim châm, mà hai tay tôi vẫn
choàng qua chưa kín hết một vòng thân con bê trông rất âu-yếm, nhưng mắt tôi cứ
dõi nhìn đàn bò đang cố hết sức chúng để lội qua sông nước lũ trong sự vất-vả
tột cùng...Nước sông đục ngầu, chảy cuồn-cuộn như thác, mang theo những gộc
củi mục màu đen thui với những hình thù kỳ-dị giống những con quái vật đang
bơi, cùng những đụn lá khô, rác-rưởi từ rừng già đổ về dồn-dập, xô mạnh vào
những cụm đá xanh mọc giữa lòng sông cạn, làm tung lên những cột nước trắng xóa
như bông bởi cơn mưa lũ bất ngờ từ chiều trên nguồn...

Tôi nhìn đàn bò vượt sông, chỉ còn thấy những cái mõm đen bóng ngoi lên khỏi
mặt nước, phì-phì, nhấp-nhô, khi ẩn khi hiện, bởi độ cao của mặt nước không đều
do sóng dữ chảy xiết với vận-tốc kinh hồn tuôn ào-ạt như thác đổ! Chúng cố sức
bơi ngang dòng nước chảy xoáy, tràn trên những mảng bụng căng phồng đầy hơi,
tròn lên như đít những cái chảo nhỏ màu vàng, thấy mà thương, bù lại vào buổi
sáng chúng đi qua dòng sông cạn này một cách nhởn-nhơ, thanh-thản...

Tôi cảm-động khi nhìn đàn bò vượt sông nước lũ đầy hiểm-nguy, vì thường chúng
bị đẩy trôi đi thực xa mới đáp được vào bờ bên kia một cách hết sức cực nhọc.
Từ đó thấy rằng loài vật cũng tranh giành với thiên-nhiên từng giây phút sống
để sinh-tồn, chứ đâu phải riêng chỉ có con người, mà tôi và con bê không thể
nào theo chúng được. Bởi vì tôi và con bê bé quá, mà dòng sông thì rộng ra
mênh-mông đầy nước lũ đang đổ xuống bạo tàn, cuốn phăng đi tất cả những gì nó
lướt qua, tạo thành "cuồng lưu" bất ngờ do những cơn mưa rừng đâu từ chiều
trên dãy Trường-sơn. Vì không thể nào vượt qua sông được theo đàn bò của mình,
nên tôi và con bê mới vừa sinh được một tuần, đành phải ngồi lại nơi bờ đá,
chờ cho con nước rút xuống ngang với mức độ bình thường như buổi sáng thì mới
qua sông...

Mình con bê bốc lên những làn hơi ấm. Những mảng lông tơ vàng của nó đã bắt đầu
khô. Bốn chân nó khệnh-khạng nhủi-nhủi xuống mặt đất. Nó lại kêu lên những
tiếng "be-be" nho-nhỏ thực dễ thương, có lẽ vì do mẹ nó đã qua sông theo đàn bò
từ khi chiều nên nó khát sữa. Tôi áp miệng vào cái tai đầy lông tơ của nó đang
ve-vẩy để nói những lời vỗ-về cho nó yên tâm"Chờ một chút nghe, tao sẽ bồng
mày qua sông khi nước rút! Tao cũng nhỏ như mày, Mẹ tao cũng ở bên kia sông!"
. Chừng như con bê hiểu được những lời tôi nói, nên nó im lặng thôi kêu, và
nhủi cái mõm ươn-ướt của nó vào người tôi, rồi lại rên lên những tiếng "ư-ử"
nhỏ hơn. Tôi kề mũi hôn nhẹ lên cái mỏm đen tuyền của nó còn nghe mùi sữa, mà
nó đã bú mẹ nó khi chiều. Tôi vuốt nhẹ những mảng lông nó nơi phần đưa ra ngoài
trời còn ướt do nước mưa, nên chúng nằm rạp xuống dính vào da, hiện lên màu đỏ
hồng như gốm. Bốn cái móng chân màu đen ngà còn non mướt, đã có nhiều vết trầy
do những mảnh đá tai mèo cắt đứt trên núi, khi nó đi theo mẹ suốt buổi sáng
lúc trời hãy còn trong xanh! Dưới bụng nó vẫn còn chiếc rún chưa rụng, quắt
lại, cong queo như một miếng da khô. Con bê nằm trong lòng tôi như một đứa trẻ
nằm trong lòng mẹ nó vậy, trong lúc tôi cũng chỉ là một đứa trẻ khôn ngoan hơn
nó một tí mà thôi!...

Một lát sau, trời bắt đầu sụp tối. Gió từ hốc núi thổi ra vù-vù mang theo hơi
lạnh của những tảng đá lớn làm cho cả tôi và nó rét run lên. Tôi bèn cởi chiếc
áo ra đắp lên cho nó, dù tôi cũng đang cóng người. Cho đến bây giờ, tôi cũng
không hiểu tại sao tôi lại yêu thương nó như thế, thương hơn cả tôi thương
tôi!? Có lẽ vì tôi nghĩ nó nhỏ hơn tôi, nó đang nhớ mẹ và khát sữa nên cứ kêu
hoài...dù cả hai đều không thể vượt nổi qua sông nước lũ, chứ chả phải tôi
giỏi-giang gì!

Cơn mưa ngưng dần. Những ngọn núi nhọn hiện rõ ra trên bầu trời trắng đục còn
vương-vấn chút nắng tàn ở phương Tây, chập-chờn trong những cụm mây thưa và
khói đá ngùn-ngụt bay lên. Nước rút thấp, chỉ còn những đụn rác bám vào những
ngọn cây thấp mọc rải-rác trên dòng sông cạn và những mỏm đá đen sì. Dòng nước
trở nên hiền lành như cũ...Đàn bò đã tự nó mất hút trên con đường về làng từ
lâu. Tôi lửng-thửng ôm con bê qua sông. Bốn chân nó cứ ngoe-nguẩy làm cho tôi
có cảm giác như nó nặng thêm, nên cứ di-chuyển được một khúc, thì tôi đặt nó
lên một mỏm đá để nghỉ tay. Bây giờ lông nó đã khô hoàn-toàn, xù lên như rậm
ra, lấp kín những mảng da mọng đỏ khi chiều. Đôi mắt nó tròn xoe, đen láy, linh
động nhìn quanh. Tai nó cứ ve-vẩy hoài như thể trên người nó không có cái gì
chịu nằm yên, y hệt những đứa trẻ con lúc nào chân tay chúng cũng cựa quậy. Mõm
nó bóng lưỡng còn dính những hạt cát trắng lấm-tấm như đường bông và cứ nhủi
vào người tôi như đang tìm vú của mẹ nó. Mồm nó thỉnh-thoảng kêu lên "be-be"
nho-nhỏ như nó đang khóc. Tôi lại vỗ-về nó:"Thôi mày ơi, chờ tao chút đi! Tao cũng nhỏ như mày, mà tao phải bồng mày qua sông, nặng muốn chết nè! Mẹ mày chắc cũng đang nhớ mày lắm! Nín đi cưng!"...
                                                                  



Những kỷ-niệm ấu thơ như thế, hôm nay lại về với tôi trong đêm dừng quân trên
một ngọn đồi ở một vùng núi xa-xăm cách quê tôi hàng vạn dặm. Tôi nhìn quanh
chỉ thấy những cụm "poncho" đang cúi đầu lặng im, lẩn trong những đốm thuốc lá
lập-lòe vừa đủ để soi sáng những khuôn mặt sạm nắng đầy nước mưa của những
người lính phong-sương. Thỉnh-thoảng có một vài tiếng húng-hắng ho của những
người lính già không chịu nổi những cuộc hành-quân dài ngày trong rừng rậm.
Tôi lấy đèn pin soi đồng hồ thấy đã hơn 12 giờ đêm. Tôi hơi lo vì đã quá giờ "G" qui-định khi chiều trên máy truyền-tin:"Đơn vị sẽ được bốc trên đồi...để về Hậu-cứ, lúc...".

Đêm nay trời lại mưa. Tôi ném một trái sáng vào góc rừng để kiểm-soát đội hình
mà tôi đã bố-trí khi chiều một cách sơ-sài, vì vùng này theo tin tình-báo cho biết là "khá an-toàn" nhờ nằm trong vùng hoạt-động của những Đơn-vị bạn, tương đối không xa Hậu-cứ lắm, được chọn để làm "điểm hẹn" bốc quân. Trái sáng bật cháy, một vùng trời nhỏ rực rỡ. Tôi nhìn thấy những sợi mưa long-lanh đan xiên, rơi lốp-bốp trên những tảng đá xanh, tung-tóe bắn ngược lên trời, trông thực đẹp. Chưa bao giờ tôi thấy mưa đẹp như thế trong đời! Tôi có cảm tưởng như tôi đang nhìn hàng vạn hạt kim-cương ném xuống từ trời cao, bị vỡ toang ra thành vô số những mảnh nhỏ loé lên, dưới những tia xanh của một trái sáng, trên một khu rừng hoang vu không dấu chân người! Lúc đó, người lính mang máy đứng cạnh tôi, cũng cảm được cái đẹp bất ngờ đó - cái đẹp chỉ được dành riêng cho những kẻ"mang mệnh biệt-ly"trong người như chúng tôi, đang đương đầu với cái chết từng giây nhìn ngắm mà thôi! Hắn xuýt-xoa thốt lên:"Đẹp quá Thiếu-úy ơi!". Tôi lặng thinh một lát, rồi nói nhỏ qua hơi thở"Ừa!"một cách mỏi-mệt...

Một lát sau, vùng sáng thu hẹp dần rồi mất hút theo trái sáng tàn phai. Bầu trời trở nên tối đen như cũ. Trời vẫn tiếp tục mưa. Tiếng một con mang rất lạc-loài bên kia thung-lũng kêu lên thảng-thốt nghe buồn-buồn, bất-giác làm tôi nhớ lại tiếng kêu tội-nghiệp của con bê bé-bỏng ngày xưa của tôi. Đêm nay cũng mưa, cũng núi rừng, cũng có tiếng kêu của những con vật hiền lành...Nhưng tôi bây giờ là một người lính chiến xa nhà, không còn là đứa trẻ ngày nào bên bờ sông tuổi thơ nước lũ mênh-mang...lại kề cận thêm với những cái khác: sự chết, súng đạn, nỗi gian-nan binh lửa và những nỗi nhớ xa-xăm ...

Tôi chẳng có dịp nào trở về với dòng sông quê nhà, có con nước lũ ngày xưa trong tuổi ấu thơ, nhưng tôi lại phải đương đầu với những "con-sông-trong-dòng- đời" trước mặt, vất-vả và nguy-hiểm hơn nhiều, mà tôi đã không còn người "bạn bé nhỏ" để thì-thầm những lời ngọt-ngào bên tai, như con bê thân-thương của tôi trong trí nhớ xa mù...

Tuổi thơ tôi là thế, dù không may, không đẹp, nhưng tôi vẫn cảm thấy nhớ nó ngùi-ngùi. Tôi vẫn yêu con bê như yêu một khoảng đời lận-đận, buồn tủi, mà tôi gánh chịu với cảm-tưởng nó đã dính cứng vào tôi như một chất keo không thể nào tách rời ra được nữa, nên hễ cứ thấy"mưa" là tôi lại nhớ tới nó với chút rưng-rưng! Dòng sông trước mặt với những con nước lũ đục ngầu, hùng-hổ chảy cuộn, là biểu tượng của một chặng đời tôi phải bước qua với nhiều thua lỗ, mà đáng lẽ ra tôi phải được cắp sách đến trường như trăm ngàn những đứa trẻ cùng tuổi khác trên trái đất này! Tôi đã bước qua dòng sông bằng đôi chân trần với cái nón lá rách tả tơi, cưu-mang thêm phần đời của con bê tội-nghiệp như người bạn đường không hiểu nổi những lời thì-thầm của tôi lúc đó, ngoài nỗi thương nhớ "người" mẹ của nó - như tôi...

Thực sự, tiếng kêu buồn-bã của con bê đã âm-thầm gợi lại trong tôi một tình cảm
nào đó xa-xăm, khi tôi chợt hiểu ra rằng tại sao buổi chiều nước lũ hôm đó, nó
lại rên lên thảm-thiết như vậy? Chắc hẳn vì trời lạnh đã đành, mà bởi mẹ nó
cũng đã bỏ nó qua sông vì mẹ nó không thể xa bầy như một bản-năng bất-biến
của từng giống thú!?Tôi thì thầm: “Bê ơi, bê nhớ Mẹ thì bê kêu than, nhưng tôi nhớ Mẹ thì tôi phải làm gì, khi thực sự tôi cũng đã xa Mẹ tôi năm tôi mới 16 tuổi, mà tôi tự biết là do tôi lựa chọn, lựa chọn cái ít đau thương hơn, chứ không phải niềm Hạnh phúc!?”.


Tôi đứng dậy giũ những hạt mưa dính trên poncho, đưa tay vuốt mặt, rồi nói với người lính mang máy:

-Nếu nhận được lịnh của Tiểu-đoàn, thì cho tôi hay ngay. Tôi ngồi trên mỏm đá
kia!

Người lính cố giương đôi mắt nhìn theo ngón tay tôi trỏ trong bóng tối nhá- nhem hướng về phía mỏm đá, hiện ra mờ-mờ gần đó, rồi nói lễ phép:

-Thưa vâng, em sẽ cho Thiếu-úy hay ngay!

Tôi bước đi trên những viên cuội tròn và gai cỏ...Tiếng nước mưa chảy róc-rách dưới đế giày "saut" tạo ra một thứ âm-thanh buồn, đầy nhung nhớ. Mưa đã nhỏ hạt dần nhưng lòng tôi sao vẫn không nguôi-ngoai về một khoảng đời thơ ấu. Dù bây giờ tôi đang là một người lính chiến, ngồi lạc-loài trên một đỉnh đồi đêm khuya xa cách với thế-giới bên ngoài. Ở đây chỉ có núi rừng, gai đá, muông thú, lòng cô-quạnh, nỗi nhớ, cái chết rập-rình và mưa...Mưa dai-dẳng từ chiều. Tôi ngồi trên đầu mỏm đá nhìn vào khoảng rừng âm-u trước mặt mà thấy lạnh người! Những hạt mưa còn sót lại, từ-từ lăn trên hai gò má sạm nắng rồi chảy vào mắt mang theo vị mặn của mồ-hôi làm cho tôi thấy cay xé. Tôi đưa tay vuốt mặt nhiều lần để tránh đi cái cảm-giác khó chịu đó, mà lòng vẫn miên-man nhớ đến những kỷ-niệm ấu thơ không lấy gì làm vui, nghĩ đến những quá-khứ đã bỏ lại sau lưng, nghĩ đến đời lính hiện-tại, bỗng dưng tôi thấy mình buồn vô hạn...và tôi chợt hiểu vì sao có những kẻ "đào ngũ" mà họ không dám trở lại đơn-vị  bao giờ ???

Ngay lúc đó có tiếng của người lính mang máy vọng lại:"Có lịnh của Tiểu đoàn rồi, Thiếu-úy ơi!". Tôi vụt nhảy xuống khỏi mỏm đá, rồi đi về phía người lính, tay chụp "ống liên-hợp" lên, áp vào tai nghe. Tụi lính gần đó mừng rỡ vây chung quanh, tôi giơ tay khoác ra hiệu bảo chúng dãn ra, xong cúp máy. Tôi ra lịnh cho tụi lính sẵn-sàng và dàn đội-hình chiến-đấu để bảo vệ an-ninh cho "bãi đáp" như thông lệ. Vài trái sáng được ném ra trên khoảng đất trống cho máy bay định hướng. Tụi lính bố-trí trong tư-thế "ứng-chiến", súng gờm sẵn, chĩa mũi ra phía ngoài rừng. Rồi ba chiếc trực-thăng bay vòng-vòng trên ngọn đồi thắp sáng, đoạn từ-từ sà thấp xuống, đáp an-toàn trên những thảm cỏ xanh đầy nước mưa ánh màu trắng bạc. Từng tốp lính cúi người lần-lượt chui vào lòng phi-cơ một cách trậttự có kế-hoạch phòng-thủ đàng-hoàng vì sợ địch tấn-công bất ngờ từ bìa rừng thẳng vào trực-thăng. Tôi bước lên sau cùng sau khi kiểm thấy không còn người lính nào trên thảm cỏ nữa. Chiếc cửa trực-thăng kéo sầm lại, rồi tôi có cảm-giác chao-đảo, lên cao...

Tôi đưa mắt nhìn xuống ngọn đồi, thấy những trái sáng nhấp-nháy sắp tắt. Khung
cảnh bỗng trở nên hẹp dần, nhưng vẫn còn hiện lên những sợi mưa long-lanh, như
những sợi kim-cương nhiều màu đan chéo vào nhau, rồi bất ngờ phụt tắt, tất cả đều chìm mất trong khoảng đen vô-tận của núi rừng...

Tôi ngồi trên chiếc nón sắt và ngả người vào thành phi-cơ. Tôi mệt lả đi, mắt lim-dim cố chống lại với cơn buồn ngủ đã kéo dài nhiều ngày trong hết suốt thời-gian lội rừng của cuộc hành-quân tảo thanh vùng trách nhiệm đã được phân công trên bản đồ làm tôi không còn đủ sức chịu đựng  nữa, và tôi thiếp đi lúc nào không hay …Trong cơn mơ-màng tôi thoáng nghe tiếng của con "" bé nhỏ của tôi ngày xưa kêu lên thảm-thương, lẩn với hình ảnh của đôi chân trần và đôi tay gầy đét của tôi đã ôm chặt nó vào lòng, đang cố vượt qua một dòng sông nước lũ vào một chiều mưa tầm-tã ở quê nhà. Tôi chợt lẩm-bẩm những lời gì đó trong miệng, làm người lính mang máy ngồi cạnh bên đưa tay vỗ vào vai tôi nhè-nhẹ, nói trong tiếng cười nhỏ:"Mơ rồi Thiếu-úy ơi!". Tôi giật mình, mở choàng đôi mắt, nhìn quanh ngơ-ngác, thấy ánh đèn chập-chờn trên nóc chiếc phi-cơ, mà tôi cứ ngỡ là những trái sáng được liệng ra trên đồi chiến-lược 315 dừng quân khi chiều. Lòng tôi trở nên bàng-hoàng kỳ lạ, và trong giọng ngái-ngủ, tôi hỏi người lính:

-Trời đã hết mưa chưa?!

Người lính mỉm cười, không trả lời, rồi chắt lưỡi nói:

-Mình sắp đến Hậu-cứ rồi, Thiếu-úy!

Tôi hững-hờ nói:

-Thế à?

Rồi tôi xoay người, đẩy-đẩy chiếc ba-lô còn ướt sũng nước mưa ra phía sau, sát với thành phi-cơ hơn để có một khoảng trống vừa đủ cho một người nằm co mình, và buông người từ-từ xuống như một cây chuối ngã chậm, mà tay tôi vẫn mân-mê lớp vải nỉ mịn may ở mặt trong của sợi quai chiếc xắc "au-dos" (túi đeo lưng của lính), như tôi đã mân-mê những mảng lông tơ mềm-mại trên lưng con bê của tôi ngày xưa, ở bên bờ một dòng sông nước lũ quê nhà, trong trí nhớ không nguôi...


                                                                                         
Bây giờ tôi ngồi đây trên một căn gác nhỏ, vừa đủ để đặt một chiếc giường ngủ "single", do một người bạn  tặng và một chiếc bàn cũng nhỏ-nhoi như thân-phận người tỵ-nạn lưu-vong! Trên bàn chỉ đặt một chiếc đồng hồ cũ kỹ, tôi chẳng buồn lên dây, không phải vì lười biếng, nhưng bởi tôi không muốn nhìn sự chuyển-dịch của thời-gian hàng ngày - mà thực sự, dường như mình đang sống một cách vô-nghĩa, đến đôi khi làm mình phát sợ! Bên cạnh chiếc đồng hồ là khung ảnh của một người bạn tặng, với cái "profile"(nhìn nghiêng) có chiếc mũi khá xinh, yểu-điệu trong chiếc "robe" màu đen tuyền, để lộ hai bờ vai tròn lẳng được chụp trong một tiệc cưới nào đó, mà tôi cố tình quay mặt ảnh vào phía trong, cho lòng mình đỡ băn-khoăn...Ở dưới giường đầy rẫy những sách báo lem-nhem, y hệt những xấp "cours" đút dưới "divan" lúc ở Đại-học xá Minh-Mạng bên nhà thời còn SV. Chỉ có sách báo, băng nhạc, sự bừa-bãi, và buồn tủi là nhiều! Vì tôi tự nghĩ: cuộc đời đã như chiếc ly thủy-tinh bị đánh vỡ tan-tành trên nền gạch, thì "ngăn nắp" làm gì nữa!? Dù - thực ra, ngăn nắp chỉ là triệu-chứng của những tâm-hồn sống rị-mọ, nên còn biết quí cuộc đời này, như một nơi để mình có thể chưng bày những ưu-thế riêng tư!?..

Mấy ngày nay, ở đây, trời vẫn tiếp tục những cơn mưa, sấm-sét ồn-ào, bỗng dưng tôi cảm thấy nhớ nhà kỳ lạ, dù cũng tự biết rằng mình chẳng còn ngôi nhà nào để nhớ!??
Mưa vẫn mù trời như trong"A farewell to Arms"của Hemingway, nơi rạp chiếu bóng Tân-Tân ở Nha-Trang một thời mới lớn! Giờ"Giã-từ vũ-khí"đã lâu rồi, mà sao những hạt mưa buồn long-lanh trên đồi khuya, trong đêm dừng quân ấy, vẫn còn sót lại trong lòng!? Mưa trên chiếc nón lá tuổi thơ bên con "bê" lạc mẹ trên bờ sông nước lũ quê nhà. Mưa trên vỉa hè “Photo Phương” ở  Sóc trăng  xa lắc của những ngày dạy học, đứng núp mưa bên cô bạn  mảnh-mai, có đôi mắt nhung sáng lung-linh như lúc nào cũng ướt, mặc chiếc áo dài "soie" đen có đính những hạt mưa tròn như ngoc,  lộng gió, tóc cột dải lụa màu tím than, mắt lim-dim, mơ-màng … hát bâng-quơ nho-nhỏ rằng:

"Mưa,  mưa vẫn mưa bay trên từng tháp cổ …Làm sao em biết bia đá không đau!?"

Dù "đau" hay "không đau", thì em vẫn ở Cali với đời Hạnh-phúc(?)và tôi vẫn ở
trên một căn gác tồi-tàn đìu-hiu, nhìn mưa ở mải tận vùng Nam bán-cầu này, ngút-ngàn vạn-lý...như khoảng cách tình-cảm giữa những con người, mà những cơn mưa - thường chỉ đem lại cho lòng mình những nỗi nhớ xa-xăm …...




                                                     THẦY NGUYỄN TƯ THIẾP

Tuesday, April 29, 2014

NẮNG HỒNG ( Thầy Nguyễn Tư Thiếp )



                                                   " Ôm ngang nỗi nhớ " Tranh Nguyễn Tư


NẮNG HỒNG

*“Nắng có hồng bằng đôi môi em ?”(TCS)


*Tùy bút Nguyễn-Tư


Mùa thu đã về trên những ngọn cây sao trong công viên thành phố . Lá vàng, biểu lộ cho sự tàn phai mất-mát, cuối cùng. Những sợi nắng lao-xao trên những bờ tường cũng  màu vàng, loang-lổ những tấm bích-chương rách nát dán chồng lên nhau làm rõ nét một ý-niệm về thời-gian: Hôm qua , bây giờ và ngày mai… Tất cả đều hiện lên trên một khoảng tường gạch rong-rêu, cuộc đời trải ra ở đó, mà ít ai quan-tâm tới. Người ta vẫn thản-nhiên sống , thản-nhiên thở, thản-nhiên nói cười… Như làn gió thản-nhiên thổi lập-lờ qua ngọn cây sao… Từng mảnh lá vàng thủng nhiều lỗ bay-bay… cuốn trên mặt lộ. Tôi đứng cạnh một công-viên nói chuyện với một người bạn về giờ giấc ở đây và sự trễ-tràng của những thói quen bắt nguồn từ một quan-niệm sống nhiều hơn là những con số ghi trên giấy tờ.Trời hơi lạnh. Nắng hồng. Người bạn chợt cười nói với tôi trong nỗi reo vui:

-Kìa , tới kìa.
-Ừa , khác.

Chiếc áo màu hồng nhạt, sọc trắng, jupe ngắn cùng màu, nụ cười tươi như hoa, tung- tăng với đôi chân chim như một thời quên lãng sương mù ở năm mới vừa 20 tuổi. Dốc Bùi -Thị-Xuân áo ấm xanh da trời ôm cặp che nghiêng nửa mặt:

-Tới đây bao giờ?
-Sớm! Định về vì thấy chẳng có ai!
-Trời! Sao vậy?
-Ừa, đẹp .
-Thôi mà!
-Trẻ thơ.
-“Thơ” gì nữa!
-Mignone.
-Tội em mà!
-Thật.!

Giá-Băng mỉm cười, cúi xuống lặng thinh, đôi tay nắm chặt chiếc xắc tay buông lỏng. Đôi mắt long-lanh rồi cười lặng-lẽ. Nắng hồng reo vui. Sợi tóc bay-bay thần-thoại. Hàm răng thực đều, đôi mắt có đuôi, ngước lên cúi xuống  -  cười bâng-quơ…Tất cả đều hồng kể cả nỗi lòng của sáng hôm nay. Tôi nghĩ thế.   Xe chạy gập-ghềnh qua những khu rừng quanh co giống con đường đèo xuyên Việt.Nhớ thực nhiều những đêm trăng dải trên đỉnh Cù-Mông, gối ba-lô nhìn trời, cây súng M16 gác ngang nơi ngực,phập-phồng theo nhịp nhảy của con tim, nghêu-ngao hát rằng:
   
Vua Lê dắt lính vô trung
 Anh theo Chúa Nguyễn vượt Cù-Mông anh qua đèo…”
………………………………………………………
“ Đèo núi cao trong  gió vi-vu …”

Mối tình đẹp như Thơ cửa người con gái út vua Lê-Hiển-Tôn với người anh-hùng áo vải Quang-Trung nơi quê Ngoại tôi trong trí nhớ xa mù…Tiếng trống Tây-Sơn đâu phải chỉ mở hội cho một cõi biên-thùy, mà cũng gieo vào lòng một người để làm nên giấc mơ 16…Xe chạy vào khu nuôi sư-tử…Loại chúa Sơn-lâm tượng-trưng cho quyền lực châu Âu, trong lúc người Đông-phương lại muốn ám-chỉ một loại đàn bà với đầy đủ nét xấu-xa của nó: “Sư-tử Hà-Đông !". Khu sở thú này dành cho những người thừa tiền của không biết làm gì cho hết,nên đến đây để mua cảm-giác mạnh, bằng cách ngồi trong xe nhìn chúa Sơn-lâm qua làn cửa kính. Không hiểu người nghĩ ra cái trò chơi này để lấy 5$ , hay để cho người khách kia có dịp tiêu-pha tiền bạc dư thừa? Có lẽ cả 2. Đời sống của người châu Âu chỉ có thế, chỉ bao quanh những bơ sữa và những kiểu áo quần thực hấp-dẫn được trình bày trên những đường cong nẩy lửa của những models không ngại cởi truồng mà hình như ngày nào, ở giây phút nào người ta cũng thấy trên TV đến độ những nhà hoạt-động cho “Phụ-nữ quyền” phải lên tiếng trong một xã-hội chỉ chú ý tới “ăn” và “mặc” chứ ít khi nào thấy chương-trình về Văn chương, Nghệ-thuật, ngoài những phim ảnh cổ-xúy bạo-động, hễ mở mắt ra là thấy “bóp cò” máu-me vương-vãi …Nói tóm, họ chỉ chú trọng tới việc làm thế nào để kích-thích tối-đa những rung-động loạn-xạ của những bộ dây thần-kinh căng thẳng, nóng bỏng …mà lúc nào chúng cũng chờ đợi kích-thích. Càng kích-thích càng tốt, bằng mọi cách, mọi kiểu. Những sợi thần kinh chằng-chịt như vậy mà lại rất ít sợi dẫn qua con tim…?!

Nắng lên cao. Khu Warragamba vẫn đông nghẹt những người, nằm rải-rác, trên những ngọn đồi thấp. Từng dãy cây sao vàng chạch, đang thay lá, để chờ Mùa Đông nảy lộc non, làm tôi nhớ những hàng cây bàng vào Thu ở Nha-Trang .Những chiếc lá to,đỏ ối nằm đầy trên những lối đi dọc bờ biển…

Đến bữa ăn trưa, nhóm người VN quây-quần trên những tấm bạt nylon được trải ra ,  với những thức ăn mà họ mang theo, ngoại  trừ tôi là khách mời. Tôi quỳ lên thảm cỏ, bới những hạt xôi trắng ngần, thơm dẻo, vào một chiếc đĩa nhựa ăn ngon lành. Tôi có bao giờ được ăn những thứ này trong nhiều năm rồi! Đôi khi có những chịu đựng tầm thường mà có bao giờ mình nghĩ đến. Mùi mỡ hành, làm nhớ những buổi sáng quê nhà làm SV nghèo ở Saigon ngủ muộn ra Ngã Sáu ngồi ở quán cóc kêu ly“xây-chừng” đặt trên chiếc ghế vuông thấp lè-tè trên mặt đất, và một gói xôi nhỏ, “khiêm-nhường” trong chiếc lá chuối rách tả-tơi, cầm cái thìa nhôm nhỏ xíu quậy-quậy vào ly café rồi dùng nó múc những muỗng xôi chậm rãi đưa vào mồm, vừa nghĩ đến xấp Cours dày cộm ghi vội ở giảng-đường ĐHSP SG, bất-giác làm tôi tự hỏi:  sao lúc nào tôi cũng nghèo,cũng tả-tơi, cũng lạc-điệu giữa những muôn ngàn đẩy xô, muôn ngàn ùa vỡ?...Tôi vẫn thấy tôi là kẻ ở ngoài! Nắng vẫn hồng, và áo em cũng hồng, mà sao lòng tôi vẫn thấy màu xám tro như màu mây trời lãng-đãng trong một ngày thời tiết xấu. Tôi mỉm cười nhớ lại một đoạn văn nào đó, trong một tài-liệu bằng Anh-ngữ ngày qua: “Nguyen Tu being a teacher, a soldier, an artist, a philosopher, and a wanderer cannot forget his broken’s heart bits left behind and scattered on the roads, the mountains, the rivers, the hamlets of Vietnam. He gathered them in 2 selections of short stories and poems: “GỞI NGƯỜI BÊN ẤY”(To you, who was left behind) and “DÁNG XƯA” (Those days Silhouette) published in Sydney in 1984 and 1985 respectively…” Mắt tôi đậu lại thực lâu ở chữ “a wanderer”. Ừa, đúng đó Giá-Băng! Còn dòng chữ “Broken’s heart bits” thì rõ-ràng, làm tôi nhớ đến cuốn sách em cho có  tên “Hãy bay đi những cơn mưa phùn”  của một người khét tiếng viết, được em bọc lại bằng giấy tím, với dòng chữ em ghi nơi trang đầu cuốn sách cũng bằng mưc tím nhắc về nụ cười nàng “Mona Lisa” của Loenard de Vinci…rằng “Em mỉm cười không phải để quyến rủ kẻ tình si, nhưng để che giấu một trái tim rách nát”như một gởi trao cho người lận-đận – là tôi , dù cũng đã có lần nào đó em nói em yêu câu thơ ngàn xưa mà Bạch-Cư-Dị đã viết cho người thương-nữ Tầm-Dương vào một đêm trăng qua sông gặp người tri-ngộ đuợc diễn nôm bởi Phan-Huy Vịnh, một kẻ sĩ VN cũng rất tài hoa :
   
   “ Cùng một lứa bên trời lận đận… 
…………………………………………….
   …Tay ôm đàn, che nửa mặt hoa…”
                                          (Tỳ Bà Hành)

Tôi rời đám đông và trèo lên một sườn đồi gần đó nằm ngửa trên cỏ, dưới một tàn cây đốt từng điếu thuốc . Tiếng trực-thăng đáp xuống và bay lên ì-ầm liên-tục gần đó đưa những người khách hiếu-kỳ chịu bỏ ra 5$ để được bay một vòng trên khu đồi chập chùng mây thấp, làm tôi nhớ những ngày lửa đạn dồn-dập trên quê-hương mà trong đó có tôi là một người lính còn quá trẻ, đứng cầm khẩu súng đầy bụi đỏ ở vùng Cao-nguyên, nhìn theo chiếc trực-thăng tải xác trương sình đầy dòi bọ, vội-vã cất cánh lên cao, dưới những tràng AK đuổi theo không ngớt… Tiếng cánh quạt cành-cành, bụi mù, lá bay và mùi thối nồng-nặc của tử-thi làm tôi ói thốc vào chiếc khăn tay nhà binh màu ô-liu choàng ngang qua mũi. Chiếc nón sắt trên đầu, đè nặng lên tuổi trẻ tôi không bằng những nỗi xót-xa khi nhìn đồng-đội ngã xuống lặng thinh, ngã xuống không rên la, không thù hận…mà có người ví-von “nằm chết như mơ” …

Tôi lấy chiếc mũ vải úp mặt lại, cố nhắm mắt một chút. Tôi thở mạnh, để đuổi xô những quá-khứ kinh-hoàng mà thực lòng tôi không hề muốn nhớ. Tôi muốn tôi có những hình ảnh đẹp hơn, dịu-dàng hơn, để cho tôi được sống với phần đời còn lại. Tôi nghĩ tới Giá-Băng, Nắng Hồng và chiếc cầu treo bắc ngang qua thung-lũng…lẩn trong câu chuyện thường bắt đầu 2 chữ “Ngày xưa”    Tôi bước song-song với nàng, vẫn lặng thinh như nắng ấm buổi trưa, và chợt thoáng nghe giọng ngọt-ngào như lời tình tự :

-Em vẫn thích bức oil  “Đường phượng bay” của anh quá chừng.!
-Sao rứa?
-Em nhớ …
-Nhớ cái gì?
-Thời đi học.
-Học sao?
-Học thầy.
-Thầy nào?
-Thầy dạy Triết.
-Triết làm “hổ ngươi” người không biết Triết, phải không? Vì triết-học đã ảnh-hưởng từng giây phút lên cuộc đời của họ mà họ không hề hay biết gì, thí dụ mình hay bỏ quên, hay lỡ lời …qua cái hành động mà Tâm-lý học gọi là  “hành-động lỡ”(Actes manqués) từ “Vô thức” mà con người không thể kiểm sóat nổi theo quan-điểm của Freud (đọc là “Froi”) về ngành Phân-tâm học - một khám phá cưc kỳ quan trọng của thế kỷ 20 ! Hay nhãn-tiền nhất như sự lưu-xứ buồn tủi của tụi mình nơi đây, là do Triết Marx,  bắt nguồn từ cái biện-chứng 3 nhịp xa lắc của  đại triết-gia Đức Hegel là : đề(thèse)-> phản-đề(anti-thèse)->tổng hợp-đề(synthèse) …Ban đầu nó chỉ được ứng-dụng trong phạm-trù thuần Tư-tưởng, nhưng sau này Marx(Đức) và Engel (Anh) đã dựa vào đó để áp-dụng vào xã-hội, nơi đó giai-cấp Công-nhân bị bóc lột thậm tệ sẽ vùng lên chống lại bọn Tư-bản “ngồi mát ăn bát vàng”, giàu có nhờ xương máu Công-nhân, nên từ đó Marx tiên-đóan chắc nịch rằng: Những cuôc “CM vô-sản” sẽ xảy ra sớm nhất và dữ-dội ở 2 nước đại Tư-bản thời bấy giờ là Mỹ và Anh. Nhưng trên thực  tế  những  cuộc “CM Vô-sản”  chỉ xảy ra đầu tiên do Lénine chủ xướng ở Nga năm 1917 , là một nước nông-nghiệp chưa hề có“người Công-nhân”  nào cả, và tiếp theo là những nước nghèo sặt máu như Tàu, VN, Băc Triều tiên, Cuba ….mà chính Lénine gọi cái đám đông vô học và nghèo nàn này bằng 1 từ ngữ rất khinh thị  là “Masse ignorante”(khối ngu), vì “ngu” nên trất dễ dụ khị … Trong lúc những nước Tư-bản từ lâu như Mỹ, Anh, Pháp, Nhật Úc…đảng CS được cho hoạt-động tự do mà chả ai thèm theo, chứng tỏ thuyết Marx đã sai ngay từ đầu .Trật lất rồi ông ơi! Đó là chưa kể ý-niệm căn bản của thuyết này luôn phủ nhận quyền “Tư-hữu” là điều trái với bản-năng con người, khi một nhóm trẻ tí -teo được thảy cho một vốc kẹo, đứa nào cũng muốn giành giựt cho thực nhiều kẹo vào mình, thì cái đó là gì nếu không phải lòng “tư hữu” mà chả ai dạy chúng cả! Và, cho tôi được hỏi: Nếu như ông Marx thấy 2 đứa bé đang sắp chết đuối, 1 đứa là con của ông, và đứa kia là con hàng xóm, thì ông sẽ nhảy xuống ao vớt đứa nào ?Nếu ông nói rằng ông sẽ vớt thằng bé hàng xóm thì ông cho tôi xin được nghi-ngờ lòng tốt của ông, và nếu ông làm thực mà bỏ cho con ông chết tốt, thì tôi sẽ quì lạy ông và tôn ông làm Thánh …Và nếu ông nói ông sẽ cứu con ông thôi, thì tôi sẽ mời ông đi uống café với tôi, vì ông thành thực sống bình thường với đầy đủ bản chất con người đầy “tham lam sân hận” được dẫn dắt bởi lòng “tư-hữu” như một bản-năng tự nhiên, mà ông cố tình phản-bác trong học thuyết của ông ……
-Ừa há, rồi gì nữa?
-Và làm “khổ” người biết Triết-học, vì biết nhiều quá nhức đầu …..
-Ừa, nhưng em thích!
-Vì sao ?
-Không biết nữa, nhưng có lẽ vì nó sâu-sắc, nó “đụng” tới tư-tưởng con người!
-Đúng như vậy, nó là môn nền tảng cho mọi suy luận,  kể cả Chính trị hay Khoa-học. ..mà em có thể từng thấy nó qua tên các Triết gia cổ-điển nhan-nhản trong sách Toán bây giờ như Thales, Pythagore, Platon …người từng viết một câu rất “hách”dựng ngay trước cửa nhà mình(sau này trở thành Academy): “Những ai không biết Toán, xin đừng bước vào cổng này”. Và những đại Triết gia kiêm Toán gia lừng danh sau này như Descartes của Pháp cực-kỳ Duy-lý, hay Bertrand Russell của nước Anh, một Triết gia từng chống chiến tranh VN, kiêm Toán gia, kiêm nhà Văn từng được giải Nobel Văn chương đã phán một câu làm ngẩn-ngơ bao kẻ học Toán:“Toán học là một môn học mà nơi đó người ta không biết nói về cái gì, và khi nói như thế không biết có đúng hay không?” chỉ để làm nổi bật tính cách thuần-lý(rationnelle) của môn học này, mà rất nhiều người sợ trong thời đi hoc …Nhưng thôi, “bỏ đi Tám!”, em là  phụ nữ, lại đẹp, bước vào thế giới này làm gì, nó làm thui chột tâm hồn lãng mạn của em đi, bởi vì anh biết rằng phần lớn các Vĩ-nhân là Triết gia và họ hay điên khùng vì suy-tư quá thể như Nietzsche chả hạn, dù Triết lý họ đã làm đảo lộn tư-tưởng châu Âu….
-Bỏ không đành đó chứ, bởi có người nói: “Thà làm một Socrate bất-mãn, còn hơn làm một con heo toại nguyện” -  nhớ chưa anh?
-Nhớ được những gì?
-Quên hết! Chỉ nhớ mỗi câu đó thôi!
-Ừa, khỏe?!
-Không khỏe đâu nha, vì sợ hãi kinh-khiếp khi thấy cái đầu mình rỗng không, dù cũng có người chưa học Triết bao giờ, hay giỏi lắm chỉ học Triết Đại cương gọi là “khai-tâm” mà thôi ở lớp 12 trước đây thì đã ra điều xỉ vả bỉ thử này nọ…hẳn do “mặc-cảm khiếm-khuyết” khi tự thấy mình không đủ sức kham nổi vấn-đề giống như người nghèo mạt rệp mà lại ưa chửi “tiền” - phải giàu cái đã thì mới đủ tư-cách miệt-thị tiền bạc,y chang như anh chàng Ả Q. của Lỗ-Tấn tự thấy mình không đánh nổi thằng vô-lại thì bỏ đi và  tự an-ủi “Mày đánh ông thì cũng bằng như  mày đánh Bố mày “ cho tiện  việc sổ sách chứ cũng hậm-hực đầy mình, nhưng ai nói gì thì nói,  sao em vẫn thích Tâm-lý-học quá!.
-Nhảm, bày đặt!
-“Hối-hận”  và “ hối cải”ở đâu anh? Tâm-lý hở?
- Bá-xàm đi !Trí nhớ “phản động” rồi.!
 Ừa, cái đầu hư rồi! Bơ sữa làm hư.
-Đừng đổ thừa! “Xe” và “nhà” làm hư.
-Ừa, cũng thế!
-Ở đâu anh?
-Ở bài “Ý thức đạo đức” - phần Morale, nói về triệu-chứng của Lương-tâm.
- “Chữ thầy trả cho thầy” hết trơn!
-Giữ lại cái gì?
- Không muốn nói…      
- Xạo! Bữa nay trông em sao “nhỏ” vậy?        
- “Lớn” bao giờ?              
-Từ ngày biết giữ “cái gì đó” trong lòng?!                
-Vậy hở? Thế thì “lớn” lâu rồi! Nhưng giờ muốn “nhỏ” lại chút-chút, như hôm nay, phải cho em một ngày để em thở bằng chính lồng ngực của em chứ  - được không?  
-Tạm-tạm được.                
- Sao lại “tạm”?                
-Vì không có cái gì “chắc” trên đời này hết như ông Xuân-Diệu từng viết “Sự thực ngày nay không thực đến ngày mai” mà, phải không ?                
-Vậy  cái “không chắc”  “chắc” phải không?                
- Ừa, nhưng “cái không chắc là chắc” cũng “không chắc” luôn!                
-Ừa hé! Khó ghê!

Và, nàng nhìn nghiêng qua tôi với đôi mắt đầy thán-phục, nói  một cách vừa thực vừa giễu cợt :

-Ừa, cái đầu của “ bồ” em “ớn”  quá!                
-Vậy hở? Ai biết đâu! Thôi bỏ qua đi không thì “khổ” đó.               
Giá-Băng giọng thách-thức:

-Bộ sợ “khổ” hở?                

-Sợ cho anh thì ít, nhưng sợ cho em thì nhiều!Bởi trong anh sự khổ-hạnh đã “saturé” từ lâu rồi, mà trong Hóa-học người ta gọi là “dung-dịch bảo-hòa” giống như muối em bỏ vào nước lã, khi muối bắt đầu không tan thêm được nữa, thì nó chỉ chìm xuống đáy ly mà thôi…Giờ anh có “khổ” thêm cũng chả sao!

Nhưng tôi vẫn muốn cho Giá-Băng, có một cái nhìn khác, dương-tính hơn về nỗi khổ kiếp người, vì nàng là người phụ-nữ được Công-đồng tỵ-nạn VN nơi đây, ưa gọi một cách thân-mật là “Người đẹp Sydney” khi nàng chưa tới 30 tuổi, tuổi đẹp nhất của người đàn bà Á-châu - dù hình như nàng cũng đã chạm mặt với nỗi buồn tủi về cuộc hôn-nhân không do nàng lựa chọn …Nên tôi nói thêm:              

-Em có nghĩ , đôi khi “khổ”cũng  là một Hạnh-phúc hay không?Như “Tình yêu” chả hạn, càng trầy-vi-tróc-vảy vì tình bao nhiêu, thì người ta lại xăm mình lao vào tình yêu bấy nhiêu, có khi còn hơn thế nữa, chưa hề thấy ai “tởn” tình yêu bao giờ cả, mà người ta vẫn dùng câu thành-ngữ dù có vẻ đùa cợt nhưng không sai mấy là “Yêu thì khổ, nhưng không yêu thì lỗ”, nói như TCS“Người ta không thể không yêu được”. Em đừng tưởng Lan và Điệp, một người cạo đầu vô Chùa rồi thì hết “yêu” nha, chỉ là sự tự lừa gạt trái tim chính mình mà thôi! Thấy Hạnh-phúc trong nỗi đau ,Tâm-lý học gọi là “Thú đau thương” – plaisir de douleur – đó em, nghe ra rất nghịch-lý trong một hạn-từ, trái với “Nguyên lý đồng nhất” trong Logique nha !?Ngay như trong Thơ tiền chiến cũng vậy, trong một “cặp đối-đãi”(couple de contraitre) đáng lẽ nó sẽ cự-nự nhau tới bến như bản-chất , thì nó lại hẹn-hò nhau trong “cùng một trật”( à la fois) để tạo ra Hạnh-phúc mới kỳ-cục chứ, như: “Em cứ hẹn nhưng em đừng đến nhé” hay “Tình chỉ đẹp những khi còn dang-dở”… có phải là “trái cựa”, là “paradoxe” khủng-khiếp không nè - một thứ “Masochisme” trong Phân-tâm học của Freud đó em?Dù trên đời này, em đừng tưởng chỉ có những tay “Sadisme” như Néron, buồn thì đốt thành La-mã rồi ngồi phán tỉnh queo “Ôi, cảnh cháy nhà sao mà đẹp vậy nhỉ ?” hay như Lê-Long-Đỉnh nước mình có thú vui giải sầu là ưa tự róc mía trên đầu trọc mấy ông Sư rồi giả vờ lỡ tay phập xuống cho tóe máu rồi nhìn cười ha-hả khoái trá, thời đại này không thiếu những loại người “lấy làm khoái trên nỗi đau kẻ khác” kiểu này đâu nha …
- Nhưng em không tin như thế?  
-Sao vậy?                
Vì đó là căn bịnh của bọn “Bourgeois” Tây phương!?            
-Nhưng, đôi lúc đó cũng là Tâm-lý bình thường mà,dành cho trường-hợp của những người chưa có kinh-nghiệm nhiều về Hạnh-Phúc, được định-nghĩa như một “khuynh-hướng được thỏa-mãn” và họ nghĩ rằng họ không còn có cách gì để vươn lên nữa, nên họ trở nên an-phận trong cái mà họ đang có một cách không muốn, gọi là chu đựng” mà phải đành lòng…thường thấy ở những người phụ-nữ Á-châu:

-Một cách tự lường gạt mình như anh đã nói lúc nãy, sao anh?
                 
-Ừa, đúng ra là một cách thế tự-vệ tiêu-cực đối với đời sống.
                 
-Nhưng đâu có tự lường gạt mình mãi đươc?

-Giống như một người say rượu, chỉ quên đời trong giây lát, rồi lại ê-chề sau đó nhiều hơn, nói như Nguyễn-Du:
               
 “Khi tỉnh rượu lúc tàn canh
 Giật mình, mình lại thương mình xót xa”
               
-Ừa, thế mà họ vẫn lựa chọn cái “Hạnh-phúc khổ đau” đó.Tại sao?
                   
-Vì họ nghĩ “Có cũng còn hơn không!” , bởi mọi người sinh ra là có quyền được Hạnh-Phúc. Họ là những kẻ bị bạc-đãi nhất trên đời, xét theo một nghĩa nào đó…Em có thấy “tội” chưa?Có khác gì cái mệnh-đề 2 của câu tục-ngữ anh nói lúc nãy đâu: “Không yêu thì lỗ”!Nói như cụ Nguyễn-Công-Trứ ngày xưa cũng nằm trong ý-niệm nhân-sinh này, khi ông có nhắc đến chữ “lãi” và “thiệt” trong đó:

“Cuộc hành-lạc bao nhiêu là lãi đấy,
Nếu không chơi, thiệt ấy ai bù?”

Giá-Băng mỉm cười với đôi mắt có chút long-lanh, im lặng trong giây lâu, rồi nói:

-Đó là lý-do em muốn xin anh cơ-hội để cho em tự thở với chính lồng ngực của mình, không gì bất-hạnh bằng mình phải thở với lồng ngực kẻ khác, bởi vì em có riêng một cuộc đời như mọi người mà mình phải “tự sống với nó”, phải không anh, sao lại để kẻ khác sống giùm cho mình chứ ??Thế mà ….                                                                    
                                                                    
 Buổi chiều tàn, đám người trở lại thành phố, và mỗi người suy  nghĩ về đời sống khác nhau. Những vạt nắng hồng đã cò nhiều  hơi lạnh. Tôi đi bên cạnh Giá-Băng, nàng nhìn nghiêng cười  tình tứ. Tôi đứng lại, móc trong túi áo một thỏi kẹo bạc-hà nhỏ,  bỏ vào bàn tay Giá-Băng và nói:

 Hãy ăn kẹo như trẻ thơ, đêm  nay về ngủ yên-bình lãng quên đi   mọi thứ đã xảy ra trong ngày,  kể cả những vạt nắng hồng lấp  lánh trên những ngọn cây  sao , đang mùa rụng lá . Và chỉ nên  nhớ một điều:
 Quên được nhiều điều là một Hạnh-phúc . Ngày mai có thể nắng  không còn  hồng  và em cũng sẽ trở lại lớn khôn như đã lớn
khôn . Xin hãy quên đi một ngày được làm trẻ thơ trong đời sống. Chiếc jupe ngắn màu hồng, đôi chân chim , câu chuyện học trò và thỏi kẹo bạc-hà hôm qua, chỉ là giấc mơ yên-bình trong cơn mộng mị , đã  đủ quá rồi , cho những giọt nước mắt phai nhanh..”



                   Đàn chim trắng photo by Nguyễn Tư
                
                           *Nguyễn-Tư 



THẦY NGUYỄN TƯ THIẾP